Bệnh HIV/AIDS nguy hiểm như thế nào?

Nhiễm HIV/AIDS là bệnh nhiễm trùng mạn tính do HIV gây ra, ở trẻ em thường phát hiện ở 2 tháng đến 3 tuổi, đường lây chủ yếu là từ mẹ sang con (>90%).

Bệnh HIV/AIDS nguy hiểm như thế nào?Bệnh HIV/AIDS nguy hiểm như thế nào?

Tin Y Tế – Để hiểu rõ hơn về căn bệnh này chúng tôi đã có cuộc trò chuyện với các Bác sĩ giảng viên tại Trường Cao đẳng Y Dược Pasteur.

Hỏi: Bác sĩ có thể cho biết bệnh nhân bị nhiễm HIV/AIDS sẽ có các dấu hiệu lâm sàng nào gợi ý bệnh?

Trả lời:

Các dấu hiệu gợi ý: Sốt kéo dài > 1 tháng, tiêu chảy kéo dài > 1 tháng, ho kéo dài > 1 tháng, tái đi tái lại, nhiễm nấm miệng kéo dài, hay tái phát, khó điều trị với các loại thuốc thông thường, nhiễm trùng da kéo dài, sụt cân nhanh hay không lên cân. Tiền sử bản thân có truyền máu. Gia đình có cha mẹ có thời gian buôn bán làm việc, các nhóm nghề nghiệp cần chú ý như công nhân xây dựng, tài xế…Cha mẹ tiêm chích ma túy, quan hệ tình dục ngoài hôn nhân, cha mẹ nhiễm HIV.

Dấu hiệu nhiễm HIV/AIDS: Tổng trạng gầy ốm suy dinh dưỡng, nhiễm trùng, lở loét da, nấm miệng, lở mép, thiếu máu, gan lách to. dấu hiệu thần kinh có co giật, rối loạn tri giác.

Dấu hiệu nhiễm trùng cơ hội: Nhiễm trùng huyết vẻ mặt nhiễm trùng, nhiễm độc. Viêm phổi có thở nhanh, co kéo liên sườn.

Hỏi: Cần làm các xét nghiệm nào trong trường hợp này?

Trả lời:

Xét nghiệm chẩn đoán nhiễm HIV: xét nghiệm tầm soát như test nhanh, serodia. Sau khi xét nghiệm tầm soát dương tính thực hiện thêm các xét nghiệm sau để chẩn đoán và tiên lượng. Xét nghiệm tìm kháng thể (Elisa, Western blot), xét nghiệm tìm kháng nguyên (PCR mu hay giọt mu khơ-DBS), cấy máu tìm virus HIV, xét nghiệm tiên lượng (phần trăm và định lượng CD4), xét nghiệm đo tải lượng virus khi cần xác định thất bại (nếu có), xét nghiệm genotype tìm gen kháng thuốc nếu nghi ngờ kháng thuốc (nếu có).

Nhiễm HIV/AIDS sẽ có các dấu hiệu lâm sàng nổi bậtNhiễm HIV/AIDS sẽ có các dấu hiệu lâm sàng nổi bật

Xét nghiệm xác định nhiễm trùng cơ hội: Công thức máu, X-quang phổi, cấy máu tìm vi trùng khi có gợi ý nhiễm trùng huyết, cấy máu tìm nấm khi sốt kéo dài và điều trị kháng sinh không đáp ứng, soi đờm tìm AFB khi X-quang gợi ý lao, CT ngực, bụng khi nghi ngờ có hạch trung thất hay ổ bụng, CT no khi nghi ngờ bệnh no do HIV (co giật, chậm phát triển tâm thần vận động).

Hỏi: Vậy bệnh được chẩn đoán xác định khi nào?

Trả lời:

Tình trạng nhiễm HIV được chẩn đoán xác định khi trẻ > 18 tháng hay < 18 tháng và mẹ HIV âm tính kết quả 3 xét nghiệm kháng thể dương tính, hay Western Blot dương tính, hay PCR hay P24 dương tính. Trẻ ≤ 18 tháng và mẹ HIV dương tính có PCR HIV dương tính, kháng nguyên P24 dương tính. Chú ý một số trẻ do tình trạng miễn dịch kém xét nghiệm Elisa tìm kháng thể kháng HIV có thể âm tính. Chẩn đoán có thể khi trẻ < 18 tháng, mẹ HIV dương tính và Elisa dương tính.

Chẩn đoán AIDS khi số lượng tế bào CD4 đối với trẻ < 12 tháng có CD4 < 15, trẻ 1-3 tuổi có CD4 < 10%, trẻ > 3 tuổi có CD4 < 15% hay < 200.

Chẩn đoán giai đoạn

Lâm sàng giai đoạn I: Không triệu chứng, sưng hạch lympho toàn thân.

Lâm sàng giai đoạn II: Nhiễm trùng hô hấp trên tái diễn hoặc mạn tính (viêm tai giữa, chảy mủ tai, viêm xoang, mắc từ 2 lần trở lên trong khoảng thời gian 6 tháng bất kỳ); phát ban sẩn ngứa; Herpes zoster (mắc từ 1 đợt trở lên trong vòng 6 tháng); loét miệng tái diễn (từ 2 đợt trở lên trong vòng 6 tháng); đỏ viền lợi, loét khoé miệng; sưng tuyến mang tai; viêm da tuyến bã; nhiễm virus gây u nhú ở người hoặc virus u mềm lây nặng (trên 5% diện tích cơ thể hoặc gây biến dạng); nhiễm nấm móng.

Lâm sàng giai đoạn III: Suy dinh dưỡng mức độ vừa, không đáp ứng thích hợp với điều trị thông thường. Tiêu chảy kéo dài không rõ nguyên nhân (> 14 ngày). Sốt kéo dài không rõ nguyên nhân (sốt cách quãng hoặc liên tục trên 1 tháng). Nhiễm nấm candida ở miệng (ngoài giai đoạn chu sinh). Bạch sản dạng lông ở miệng. Lao phổi. Viêm phổi nặng tái diễn được cho là do vi khuẩn (mắc từ 2 lần trở lên trong vòng 6 tháng). Viêm loét hoại tử lợi cấp tính/viêm quanh cuống răng. Viêm phổi kẽ thâm nhiễm lympho. Thiếu máu (Hb< 3.000/mm3 ) không rõ nguyên nhân. Bệnh lý phổi mạn tính liên quan đến HIV bao gồm cả dãn phế quản. Bệnh lý cơ tim liên quan đến HIV hoặc bệnh lý thận liên quan đến HIV.

Biểu hiện bệnh HIV/AIDSBiểu hiện bệnh HIV/AIDS

Lâm sàng giai đoạn IV: Các bệnh cảnh có thể chẩn đoán sơ bộ trên cơ sở các dấu hiệu lâm sàng hoặc các thăm dò đơn giản suy mòn nặng hoặc suy dinh dưỡng nặng không rõ nguyên nhân không đáp ứng thích hợp với điều trị thông thường. Gan lách to. Viêm phổi do Pneumocystic (PCP). Nhiễm trùng nặng tái diễn được cho là do vi khuẩn (mắc từ 2 lần trở lên trong vòng 1 năm như viêm mủ màng phổi, viêm mủ cơ, nhiễm trùng xương hoặc khớp, viêm màng não nhưng không bao gồm viêm phổi). Nhiễm Herpes simplex môi – miệng hoặc ở da mạn tính (kéo dài trên 1 tháng). Lao ngoài phổi. Sarcoma Kaposi. Nhiễm nấm Candida thực quản. Bệnh do Toxoplasma hệ thần kinh trung ương. Bệnh lý não do HIV.

Hỏi: Vậy nguyên tắc điều trị bệnh là gì và cần lưu ý các vấn đề nào?

Trả lời:

Nguyên tắc điều trị:

  • Tham vấn cha mẹ trước và sau có chỉ định xét nghiệm HIV.
  • Điều trị kháng HIV.
  • Điều trị các nhiễm trùng cơ hội.
  • Dinh dưỡng hỗ trợ.

Theo Văn Giang – Y Dược Điện Biên